Chuyển đến nội dung chính

Các bảng xếp hạng đại học đang khuyến khích hợp tác nghiên cứu hay phụ thuộc nghiên cứu?

Các bảng xếp hạng đánh giá các CSGDĐH trên nhiều khía cạnh, trong đó 
các chỉ số liên quan đến nghiên cứu (năng suất nghiên cứu, tác động trích dẫn, trắc lượng thư mục...) thường chiếm trọng số khá cao (gần 50% cả trực tiếp hoặc gián tiếp). Các CSGDĐH có nghiên cứu được trích dẫn nhiều sẽ nhận được lợi thế đáng kể trong bảng xếp hạng toàn cầu. Tuy nhiên, có một câu hỏi quan trọng về phương pháp luận: các bảng xếp hạng đại học đang đo lường điều gì về mặt nghiên cứu của các CSGDĐH - đo lường năng lực khoa học độc lập hay là sự tham gia vào các mạng lưới nghiên cứu quốc tế được trích dẫn nhiều?

Sự khác biệt này trở nên đặc biệt quan trọng khi xem xét các CSGDĐG từ các quốc gia đang phát triển, thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp. Nhiều CSGDĐH ở những quốc gia này hoạt động trong điều kiện tài chính eo hẹp. Một số trường phải vật lộn để duy trì phòng thí nghiệm, mua thiết bị hiện đại, hỗ trợ đào tạo tiến sĩ hoặc thậm chí để cung cấp đủ ngân sách hoạt động. Ở một số quốc gia, những hạn chế về tài chính còn mở rộng đến khó khăn trong việc trả lương hoặc duy trì các chương trình nghiên cứu dài hạn.
Tuy nhiên, bất chấp những thách thức này, các CSGDĐH từ một số quốc gia có nguồn lực hạn chế vẫn tiếp tục nằm trong nhóm 1.000-1.500 hàng đầu thế giới trong các hệ thống xếp hạng toàn cầu lớn. Làm thế nào các trường đại học với nguồn đầu tư nghiên cứu hạn chế lại đạt được hiệu quả nghiên cứu cạnh tranh toàn cầu? 
Một lời giải thích khả thi là sự phụ thuộc ngày càng tăng vào hợp tác nghiên cứu quốc tế. Sử dụng Bảng xếp hạng đại học thế giới QS và dữ liệu thư mục từ CSDL Scopus tháng 6/2026 đã chứng minh rất rõ cho điều này. 
Ví dụ, ở Pakistan, 57,9% tổng số công bố (từ năm 2021-2025) có liên quan đến hợp tác quốc tế, tạo ra 127.574 bài, hơn 2,24 triệu trích dẫn và trung bình 17,6 trích dẫn mỗi công bố. Trong khi đó, các công bố hợp tác trong nước chỉ có trung bình 9,8 trích dẫn mỗi bài, công bố hợp tác nội bộ trường đại học và các công bố của một tác giả duy nhất có trung bình khoảng 7,2 trích dẫn mỗi bài. Như vậy, nghiên cứu hợp tác quốc tế đạt được tác động trích dẫn gần gấp đôi so với nghiên cứu trong nước. 
Xu hướng tương tự cũng được thấy ở các quốc gia vùng Vịnh. ​​Dữ liệu Scopus tương tự cho thấy sự hợp tác quốc tế chiếm 74% số công bố ở Qatar; 75,8% ở UAE và 76,8% ở Saudi Arabia. Ở mỗi quốc gia, các công bố hợp tác quốc tế luôn tạo ra tác động trích dẫn cao nhất: trên 20 trích dẫn mỗi bài ở Qatar, trên 17 trích dẫn mỗi bài ở cả UAE và Saudi Arabia. Trong khi đó, nghiên cứu hợp tác trong nước thường chỉ nhận được từ 7 đến 16 trích dẫn mỗi bài, công bố chỉ do một tổ chức thực hiện và của một tác giả duy nhất cho thấy hiệu suất trích dẫn còn thấp hơn đáng kể.
Xu hướng theo thời gian củng cố quan sát này. Từ năm 2021 đến năm 2025, Pakistan đã tăng cường hợp tác quốc tế từ 62,0% lên 70,9%; trong khi Qatar duy trì ở mức gần 74%, UAE liên tục vượt quá 75% và Saudi Arabia duy trì mức độ hợp tác khoảng 77%. Những phát hiện này cho thấy hợp tác quốc tế đã phát triển từ một chiến lược nghiên cứu không thường xuyên thành phương thức tạo ra sản phẩm khoa học chủ đạo ở một số quốc gia.
Tất nhiên, cần có các nghiên cứu chi tiết hơn để đánh giá tình hình ở các quốc gia khác nhau. Nhưng những phát hiện ở trên cũng đặt ra một câu hỏi rộng hơn: đến mức nào thì hợp tác quốc tế đem lại lợi ích, và ở điểm nào thì nó có thể cho thấy sự phụ thuộc khoa học hơn là sức mạnh khoa học?

Hợp tác khoa học hay phụ thuộc khoa học?
Không có gì nghi ngờ rằng hợp tác quốc tế mang lại những lợi ích to lớn. Hợp tác khoa học tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các phòng thí nghiệm tiên tiến, thiết bị hiện đại, chuyên môn đa ngành, nguồn tài trợ cạnh tranh, bộ dữ liệu lớn và mạng lưới nghiên cứu được trích dẫn nhiều. Đối với các quốc gia có cơ sở hạ tầng nghiên cứu hạn chế, hợp tác quốc tế là một cơ chế hiệu quả để đẩy nhanh sự phát triển khoa học, tăng cường khả năng hiển thị của nghiên cứu, nâng cao đào tạo nhà nghiên cứu và thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
Hợp tác và phụ thuộc không nhất thiết đồng nghĩa với nhau.
Hợp tác khoa học thể hiện mối quan hệ đối tác bình đẳng, trong đó các tổ chức tham gia đóng góp chuyên môn, khả năng lãnh đạo, đổi mới và nguồn lực, đồng thời củng cố năng lực khoa học của chính họ.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc khoa học có thể xuất hiện khi năng suất nghiên cứu được duy trì phụ thuộc phần lớn vào các cộng tác viên nước ngoài, phòng thí nghiệm ở nước ngoài, nguồn tài trợ bên ngoài hoặc các chương trình nghiên cứu do quốc tế dẫn đầu. Trong những trường hợp như vậy, các trường đại học có thể tiếp tục tạo ra các ấn phẩm được trích dẫn nhiều trong khi vẫn sở hữu năng lực tương đối hạn chế trong việc tạo ra các nghiên cứu tương tự một cách độc lập.
Các phương pháp xếp hạng toàn cầu hiện nay hiếm khi phân biệt giữa hai hệ sinh thái nghiên cứu khác nhau một cách căn bản này.
Một trường đại học có các công bố được trích dẫn nhiều chủ yếu thông qua các hợp tác được dẫn dắt bởi quốc tế có thể nhận được điểm nghiên cứu tương đương với một đơn vị khác tạo ra tác động tương tự chủ yếu thông qua cơ sở hạ tầng, cơ chế tài trợ, phòng thí nghiệm và năng lực lãnh đạo khoa học nội địa. Từ góc độ phương pháp xếp hạng, cả hai tổ chức đều có vẻ thành công như nhau, mặc dù đại diện cho các mức độ độc lập nghiên cứu rất khác nhau.
Vấn đề này trở nên đặc biệt quan trọng khi hợp tác quốc tế chiếm đến 60 - 80% sản lượng khoa học của một quốc gia. Đến điểm nào thì hợp tác không còn đại diện cho sự trao đổi khoa học lành mạnh mà thay vào đó phản ánh sự phụ thuộc về cấu trúc vào chuyên môn từ bên ngoài?
Đối với các quốc gia có ngân sách nghiên cứu hạn chế, sự phụ thuộc như vậy có thể hiểu được. Các nhà nghiên cứu thường có ít lựa chọn thay thế ngoài việc hợp tác quốc tế để tiếp cận nguồn tài trợ, thiết bị, công nghệ tiên tiến, chuyên môn và cơ hội xuất bản. Trong những bối cảnh này, hợp tác quốc tế đóng vai trò là cơ chế thiết yếu để duy trì năng suất khoa học.
Một vấn đề quan trọng không kém liên quan đến các quốc gia giàu có hơn. Nếu các quốc gia đầu tư hàng triệu hoặc thậm chí hàng tỷ đô la mỗi năm vào nghiên cứu và phát triển, tại sao họ vẫn duy trì tỷ lệ hợp tác quốc tế gần 75%?

Thách thức toàn cầu
Câu trả lời chắc chắn là đa yếu tố. Những thách thức khoa học đương đại – bao gồm trí tuệ nhân tạo, y học chính xác, biến đổi khí hậu, đại dịch, phát triển bền vững năng lượng và khoa học vũ trụ – đòi hỏi chuyên môn và cơ sở hạ tầng đa quốc gia mà không một tổ chức hay quốc gia nào có thể tự mình cung cấp.
Do đó, sự hợp tác quốc tế rộng rãi giữa các hệ thống nghiên cứu phát triển cao phản ánh sự chuyên môn hóa khoa học hơn là điểm yếu trong nghiên cứu.
Tuy nhiên, cách diễn giải cho các tỷ lệ hợp tác như nhau có thể khác nhau đáng kể tùy thuộc vào năng lực nghiên cứu của từng quốc gia. Tỷ lệ hợp tác 75% có thể thể hiện sự xuất sắc về khoa học ở một quốc gia trong khi lại cho thấy sự phụ thuộc về cấu trúc ở một quốc gia khác. Các phương pháp xếp hạng hiện tại thường coi cả hai trường hợp này là giống nhau.
Các chỉ số dựa trên trích dẫn cũng cần được xem xét tương tự. Các công bố hợp tác quốc tế luôn nhận được số lượng trích dẫn cao hơn vì chúng liên quan đến các nhóm nghiên cứu lớn hơn, nhiều liên kết tổ chức, phổ biến rộng rãi hơn, tầm nhìn quốc tế rộng hơn và gia tăng cơ hội hợp tác tiếp theo. Do đó, các chỉ số trích dẫn có thể tưởng thưởng cho cấu trúc hợp tác ngang với chất lượng nội tại của nền khoa học.
Vì các chỉ số nghiên cứu chiếm một tỷ lệ đáng kể trong bảng xếp hạng đại học toàn cầu, các tổ chức có mạng lưới nghiên cứu quốc tế rộng lớn có thể đạt được lợi thế xếp hạng đáng kể bất kể năng lực khoa học độc lập của họ.
Thảo luận này không nên được hiểu là sự chỉ trích đối với hợp tác quốc tế. Khoa học hiện đại về cơ bản phụ thuộc vào quan hệ đối tác quốc tế, và nhiều thành tựu khoa học vĩ đại nhất của nhân loại là kết quả của sự hợp tác đa quốc gia. Thay vào đó, vấn đề liên quan đến cách thức hợp tác được diễn giải trong các hệ thống đánh giá nghiên cứu.

Liệu có cần các hạng mục, chỉ số xếp hạng mới?
Các phương pháp xếp hạng trong tương lai có thể mang lại lợi ích từ việc đánh giá tính độc lập của nghiên cứu cùng với hợp tác nghiên cứu. 
Các chỉ số bổ sung có thể bao gồm năng suất nghiên cứu nội địa, vai trò lãnh đạo trong các dự án đa quốc gia, tỷ lệ tác giả chính và tác giả liên hệ, mức độ đa dạng của các nguồn tài trợ, phát triển hạ tầng nghiên cứu địa phương, năng lực đào tạo sau đại học, chuyển giao công nghệ và bằng chứng cho thấy sự hợp tác quốc tế góp phần vào sự phát triển bền vững của tổ chức hơn là sự phụ thuộc lâu dài.

Cuối cùng, câu hỏi trọng tâm không phải là liệu hợp tác quốc tế là tốt hay xấu. Mà là liệu bảng xếp hạng đại học toàn cầu hiện tại có phân biệt đầy đủ giữa hợp tác khoa học và sự phụ thuộc khoa học hay không. Cho đến khi sự phân biệt này được đánh giá kỹ lưỡng, các bảng xếp hạng có thể tiếp tục tưởng thưởng cho các mạng lưới hợp tác giàu trích dẫn mà không phản ánh đầy đủ sức mạnh, tính bền vững và tính độc lập của các hệ sinh thái nghiên cứu quốc gia. Vấn đề này cần được thảo luận rộng rãi trên phạm vi quốc tế, với sự tham gia của các chính phủ, lãnh đạo các trường đại học, các cơ quan tài trợ, các nhà nghiên cứu thư mục học và các tổ chức xếp hạng toàn cầu.

------------
Nguồn: Waseem Hassan & Fred Paas. Do rankings reward research collaboration or dependence? (University World News, 15/7/2026): https://www.universityworldnews.com/post.php?story=20260715082601658

Nhận xét