Ngày càng phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến liêm chính học thuật trong công bố khoa học. Một số mô hình lượng giá rủi ro liêm chính nghiên cứu đã được phát triển nhằm đưa ra cảnh báo cho các CSGDĐH từ dữ liệu về công bố khoa học. Năm 2025, GS. Lokman I. Meho (American University of Beirut) đề xuất và công bố chỉ số RI2 (Research Integrity Risk Index), lần lượt được cải tiến từ 2 lên 3 rồi 4 chỉ số thành phần (xem các bài trên blog này). Tháng 3/2026, SCImago - tổ chức vốn nổi tiếng về xếp hạng tạp chí và sau đó là xếp hạng đại học - cũng dã phát triển chỉ số IRIS (Indicators of Research Integrity Risk). Với lợi thể về dữ liệu công bố đồ sộ của mình, IRIS của SCImago khá chi tiết và hiện đã áp dụng cho 5491 CSGDĐH toàn cầu.
Khung đánh giả rủi ro IRIS cho mỗi CSGDDH có hai cấp độ: cấp độ chỉ số (cung cấp thông tin chi tiết về các lĩnh vực rủi ro cụ thể, phiên bản hiện hành có 9 chỉ số) và cấp độ đánh giá toàn cầu hay đánh giá rủi ro cấu trúc (tổng hợp toàn bộ các chỉ số để đưa ra thước đo tổng thể về rủi ro của CSGDĐH).
Các chỉ số của IRIS
1. Tỷ lệ bài có tác giả ghi đa nhiệm sở (Multiple affiliation)
Chỉ số này đo lường tỷ lệ % công bố của một CSGDĐH mà trong đó ít nhất một tác giả liệt kê nhiều hơn một địa chỉ nhiệm sở. Việc có nhiều nhiệm sở thường là kết quả hợp pháp của việc chuyển chỗ làm của nhà nghiên cứu, các vị trí kiêm nhiệm hoặc quan hệ giữa các trường đại học và đối tác giảng dạy. Tuy nhiên, tỷ lệ cao bất thường có thể là dấu hiệu của những nỗ lực có tính chiến lược để thổi phồng sự đóng góp hay "mua tên nhiệm sở". Chỉ số này giúp nhận diện các thực hành đa nhiệm sở chưa được phát hiện trước đây, làm nổi bật các lĩnh vực mà việc ghi nhận đóng góp có thể cần được xem xét lại hơn là ngụ ý hành vi sai trái ngay lập tức (Halevi et al., 2023).
2. Tỷ lệ công bố bị rút lại (Retracted Output)
Chỉ số này theo dõi tỷ lệ các công bố của một CSGDĐH đã chính thức bị rút lại. Việc rút bài có vai trò như một dấu hiệu khách quan cho sự cẩn thiết của một sự chỉnh sửa, nhưng những chỉnh sửa này bao gồm từ những lỗi vô ý đến những hành vi sai trái nghiêm trọng như đạo văn hoặc bịa đặt (Fanelly và cộng sự, 2015). Một tỷ lệ rút bài cao đôi khi có thể phản ánh cam kết nghiêm ngặt của một CSGDĐH đối với việc kiểm soát chất lượng và giám sát minh bạch hậu xuất bản. Do đó, chỉ số này đóng vai trò như một lời nhắc nhở xác minh định tính nhằm xác định xem liệu hiện tượng này bắt nguồn từ những sai sót về liêm chính mang tính hệ thống hay là một văn hóa hiệu đính khoa học mạnh mẽ.
3. Tỷ lệ tự trích dẫn nội bộ (Institutional Self-Citation)
Chỉ số này phản ánh tỷ lệ trích dẫn nhận được có nguồn gốc từ chính các tác giả của CSGDĐH đó, cung cấp cái nhìn sâu hơn về sự cân bằng giữa sự công nhận nội bộ và từ bên ngoài. Một mức độ tự trích dẫn cơ bản là một kết quả tự nhiên của các chương trình nghiên cứu tích lũy, nhưng khi nó quá cao có thể cho thấy sự biệt lập về mặt khoa học hoặc nỗ lực bơm thổi ảnh hưởng. Điều quan trọng cần lưu ý là các đơn vị chuyên môn đặc thù hoặc có phạm vi hẹp có thể có tỷ lệ tự trích dẫn cao hơn một cách tự nhiên do mạng lưới toàn cầu hạn chế; tuy nhiên, rủi ro tiềm tàng của việc thiếu thẩm định từ bên ngoài vẫn là một lĩnh vực quan trọng cần được xem xét trong chiến lược.
4. Tỷ lệ công bố trên các tạp chí bị ngừng chỉ mục (Output in Discontinued Journals)
Chỉ số này thể hiện tỷ lệ các công bố trên các tạp chí đã bị loại khỏi các cơ sở dữ liệu thư mục lớn (như Scopus) do các vấn đề về chất lượng hoặc đạo đức (Cortegiani và cộng sự, 2020). Giá trị cao của chỉ số này cho thấy tính dễ tổn thương tiềm tàng trong "thẩm định", khiến CSGDĐH dễ bị dính vào các hoạt động xuất bản săn mồi hoặc đáng ngờ. Một tỷ lệ cao liên tục là dấu hiệu cho một nhu cầu có tính hệ thống về các cấu trúc hỗ trợ tốt hơn để giúp các nhà nghiên cứu nhận diện và tránh các kênh công bố chất lượng thấp, nhằm đạt được độ tin cậy khoa học lâu dài.
5. Tỷ lệ công bố có quá nhiều tác giả (Hyper-Authored Output)
Chỉ số này liên quan đến tỷ lệ các công bố có số lượng đồng tác giả đặc biệt lớn, được định nghĩa là các ngoại lệ về mặt thống kê so với cùng lĩnh vực và năm xuất bản. Mặc dù sự hợp tác rộng rãi là một tiêu chuẩn trong các lĩnh vực như vật lý năng lượng cao hoặc các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn và có thể giải thích cho tỷ lệ cao ở các CSGDĐH chuyên biệt, nhưng tỷ lệ bất thường ở các lĩnh vực khác có thể che khuất những đóng góp cá nhân và là dấu hiệu của tác giả danh dự hoặc khách mời. Một đánh giá chi tiết gắn với bối cảnh số tác giả theo từng lĩnh vực có thể giúp phân biệt giữa tỷ lệ cần thiết và không chính đáng.
6. Khoảng cách giữa tác động của tổng số công bố và tác động của số công bố có tác giả chính là người của CSGDĐH (Leadership impact gap)
Chỉ số này so sánh Tác động trích dẫn có trọng số theo lĩnh vực (FWCI) tổng thể của một CSGDĐH với tác động của các công bố trong đó CSGDĐH này giữ vị trí tác giả đứng đầu (Moya-Anegón et al. 2013). Khoảng cách dương đáng kể cho thấy các kết quả có tác động cao phụ thuộc nhiều vào các đối tác bên ngoài, chỉ ra "rủi ro về tính bền vững" khi mà danh tiếng khoa học phụ thuộc vào sự hợp tác hơn là vai trò lãnh đạo tự thân. Mặc dù thường gặp ở một giai đoạn cần thiết trong xây dựng năng lực cho các CSGDĐH mới nổi, giá trị cao của chỉ số là tín hiệu mang tính để xem xét sự cân bằng giữa tham gia hợp tác và phát triển năng lực nghiên cứu độc lập, nội sinh.
7. Tỷ lệ tác giả siêu năng suất (Hyperprolific Authors)
Chỉ số này theo dõi tỷ lệ đóng góp cho CSGDĐH liên quan đến các nhà nghiên cứu vượt quá ngưỡng 25 công bố mỗi năm. Trong khi năng suất cao là đặc trưng cho những người đứng đầu nhóm nghiên cứu thành công trong khoa học thực nghiệm, những trường hợp ngoại lệ cực đoan có thể báo hiệu sự mất kết nối giữa số lượng công bố và đóng góp trí tuệ có ý nghĩa (Ioannidis và cộng sự, 2018). Xét ở cấp độ tổng thể của CSGDĐH, chỉ số này nhấn mạnh sự mất cân bằng hệ thống, khuyến khích đánh giá liệu các động lực công bố có làm ảnh hưởng đến chiều sâu và tính minh bạch của các đóng góp nghiên cứu cá nhân hay không.
8. Tỷ lệ công bố trên các tạp chí của chính CSGDĐH (Institutional Journals Output)
Chỉ số này đo lường tỷ lệ các công bố được đăng tải trên các ấn phẩm thuộc sở hữu hoặc do chính tổ chức đó quản lý. Mặc dù các tạp chí này hỗ trợ việc phổ biến kiến thức địa phương và giúp đỡ các nhà nghiên cứu trẻ, nhưng việc phụ thuộc quá mức vào chúng lại gây ra những lo ngại về tính độc lập của biên tập viên, tính khách quan của quá trình bình duyệt và khả năng thiên vị nội bộ. Tỷ lệ cao không hẳn là vấn đề nếu các tạp chí đáp ứng các tiêu chuẩn cạnh tranh; thay vào đó, chỉ số này lưu ý các CSGDĐH đảm bảo rằng các chiến lược xuất bản nội bộ không làm ảnh hưởng đến sự công nhận từ bên ngoài hoặc tạo ra xung đột lợi ích trong việc đánh giá nghiên cứu.
9. Tỷ lệ công bố thặng dư (Redundant Output)
Chỉ số này cố gắng phát hiện các trường hợp khi một nghiên cứu khoa học duy nhất và mạch lạc bị phân chia thành nhiều công bố khác nhau, thường được gọi là "cắt lát salami". Các đóng góp được dán nhãn là thặng dư khi chúng có sự trùng lặp thư mục cao bất thường (trên 70%) với các công trình khác được xuất bản bởi cùng các tác giả trong cùng năm. Sự trùng lặp cao của các tài liệu tham khảo được trích dẫn có thể đơn giản là kết quả của việc xuất bản từ một dự án duy nhất hoặc từ một lĩnh vực nghiên cứu rất nhỏ. Tuy nhiên, mặc dù tính liên tục của nghiên cứu đòi hỏi một cách tự nhiên phải trích dẫn các công trình nền tảng, việc phân mảnh quá mức một nghiên cứu duy nhất thành nhiều "đơn vị xuất bản tối thiểu" làm sai lệch bằng chứng khoa học và gây áp lực lên hệ thống bình duyệt. Chỉ số này cảnh báo các CSGDĐH về tỷ lệ quá cao, giúp họ tiến hành các đánh giá nội bộ chi tiết về sản phẩm khoa học của mình.
Các chỉ số IRIS được tính toán dựa trên dữ liệu từ phiên bản mới nhất của Bảng xếp hạng các CSGDĐH SCImago (SIR) và có sẵn cho tất cả các CSGDĐH có tên trong bảng xếp hạng (hiện là xêp hạng SIR 2026, xem tại đây).
IRIS sử dụng chuẩn hóa theo điểm Z (Z-score normalization) để chuyển đổi tỷ lệ % của các chỉ số ở trên sang một thang đo chung, trên cơ sở so sánh với mức trung bình toàn cầu: giá trị 0 đại diện cho mức trung bình toàn cầu, giá trị dương cho thấy mức độ rủi ro cao hơn trung bình toàn cầu, trong khi giá trị âm cho thấy mức độ rủi ro thấp hơn trung bình toàn cầu.
Dựa trên chí số tổng thể, IRIS phân hạng 4 nhóm rủi ro, gồm “rủi ro cấu trúc rất thấp” (very low – màu xanh), “rủi ro cấu trúc thấp” (low – màu vàng), “rủi ro cấu trúc trung bình” (medium – màu cam) và "rủi ro cấu trúc đáng kể" (significant – màu đỏ).
Dưới đây là kết quả phân hạng rủi ro liêm chính nghiên cứu IRIS cho 61 CSGDĐH Việt Nam (có tên trong bảng xếp hạng SIR năm 2026, dựa trên số liệu giai đoạn 2020-2024):
IRIS không phải là bảng xếp hạng đại học mà là một khung đánh giá rủi ro về tính liêm chính trong nghiên cứu và hoạt động như một hệ thống cảnh báo cho các CSGDĐH. Mục đích của nó là giúp các CSGDĐH tăng cường tính liêm chính thông qua sự trung thực, trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và sự quản lý có trách nhiệm trong các hoạt động nghiên cứu.
Nguồn: https://www.scimagoiris.com/

Nhận xét
Đăng nhận xét