Chỉ số Ảnh hưởng trích dẫn theo lĩnh vực (Field-Weighted Citation Impact, FWCI) được Times Higher Education sử dụng để tính điểm cho một tiêu chí trong xếp hạng đại học thế giới [1]. Theo Điều 11, Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN quy định về bài báo khoa học và đánh giá, xếp loại tạp chí khoa học Việt Nam, FWCI là một trong các chỉ số dùng để xêp loại tạp chí [2]. Vậy FWCI là gì, được tính toán và sử dụng thế nào, có ưu điểm và hạn chế ra sao? FWCI nguyên là một chỉ số trắc lượng áp dụng cho một công bố khoa học.
FWCI là tỷ số giữa số trích dẫn thực tế một công bố nhận được và số trích dẫn trung bình mà tất cả các công bố trong cùng lĩnh vực nhận được [3].
- FWCI =1 có nghĩa là công bố đang xét đã được trích dẫn đúng như kỳ vọng dựa trên trung bình toàn cầu đối với các công bố cùng lĩnh vực.
- FWCI > 1 có nghĩa là công bố đang xét đã được trích dẫn nhiều hơn mức kỳ vọng dựa trên trung bình toàn cầu đối với các công bố cùng lĩnh vực. Ví dụ, một bài báo có FWCI = 2,11 có nghĩa là nó được trích dẫn nhiều hơn 111% so với mức trung bình toàn cầu.
- FWCI < 1 có nghĩa là công bố đang xét đã được trích dẫn ít hơn mức kỳ vọng dựa trên trung bình toàn cầu đối với các công bố cùng lĩnh vực. Ví dụ, một bài báo có FWCI = 0,87 có nghĩa là nó được trích dẫn ít hơn 13% so với mức trung bình toàn cầu.
Dĩ nhiên số trích dẫn so sánh phải cùng một khung thời gian, cùng một loại hình công bố (bài báo, bài kỷ yếu, chương sách…) và cùng một CSDL thống kê.
Về khung thời gian, các nguồn FWCI khác nhau đều thống nhất số trích dẫn được tính cho năm xuất bản công bố và 3 năm tiếp theo (ví dụ, bài báo xuất bản năm 2020 thì sẽ tính tổng số lần nó được trích dẫn trong năm 2020 và các năm 2021, 2022 và 2023) [3].
Phân loại lĩnh vực nghiên cứu của ấn phẩm công bố (tạp chí, chuỗi sách, kỷ yếu) có thể không giống nhau giữa các CSDL thư mục. Ví dụ, Scopus phân loại lĩnh vực theo hệ thống ASJC (All Science Journal Classification) của Elsevier, gồm 27 lĩnh vực chính (major subject areas) và 334 chủ đề (disciplines); Web of Science phân loại các ấn phẩm thành 254 lĩnh vực (subject categories) và OpenAlex phân loại cơ bản theo ASJC như Scopus.
Từ đối tượng công bố khoa học, FWCI được mở rộng ra tính toán cho nhà khoa học và cho CSGDĐH (dựa trên tổng số công bố nhà khoa học, CSGDĐH có được). Sử dụng FWCI cho phép đánh giá ảnh hưởng toàn cầu của toàn bộ công trình nghiên cứu của một nhà khoa học trong suốt sự nghiệp của họ, tránh bị thiên vị theo chuyên ngành. Trong khi đó, FWCI được sử dụng để so sánh hiệu quả của CSGDĐH trong các bảng xếp hạng toàn cầu bất kể sự khác biệt về văn hóa trích dẫn.
Công thức tính toán FWCI cho đối tượng nhà khoa học, CSGDĐH như sau [3]:
Trong đó,
N – số công bố của đối tượng
ci – số trích dẫn nhận được bới công bố I trong năm xuất bản và 3 năm tiếp theo
ei – số trích dẫn kỳ vọng nhận được bới tất cả công bố tương tự trong cùng năm xuất bản và 3 năm tiếp theo.
Trường hợp có 1 công bố tương tự được xếp vào hơn 1 lĩnh vực, trung bình điều hòa sẽ được sử dụng để tính ei . Với công bố i thuộc vào 2 lĩnh vực A và B thì ei được tính như sau:
Mặc dù FWCI được biết như một chí số trắc lượng khoa học có ưu điểm là chuẩn hóa theo lĩnh vực, cũng có các ý kiến khác chỉ ra những hạn chế của FWCI, đặc biệt trong bối cảnh phức tạp về liêm chính khoa học và "chạy đua xếp hạng" hiện nay.
|
Cần thận trọng khi sử dụng chỉ số FWCI nếu đối tượng (ví dụ, một nhà khoa học, một CSGDĐH) có số lượng công bố ít. Khi đó, chỉ một vài công bố được trích dẫn nhiều có thể làm lệch (skew) giá trị FWCI [3].
|
Một nghiên cứu mới đây trên Scientometrics [4] đã chỉ ra một số yếu tố có thể gây ra hiện tượng lạm phát (giá trị cao bất thường) FWCI, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến kết quả xếp hạng đại học. Dựa trên phân tích tập dữ liệu gồm 230.357 ấn phẩm từ 10 CSGDĐH được xếp hạng cao trên THE WUR trong giai đoạn 2021–2025, các tác giả cho thấy ngoài các yếu tố độ nhạy dự báo được của FWCI, các yếu tố khác như hệ thống phân loại lĩnh vực và loại công bố cũng ảnh hưởng đáng kể đến giá trị FWCI. Cụ thể, các bài báo hội nghị và chương sách trong một số lĩnh vực có thể có tỷ lệ FWCI/trích dẫn trung bình cao hơn gấp 5 lần so với các bài báo tạp chí. Trong khi đó, ở một số CSGDĐH, các bài hội nghị, sách và chương sách chiếm tới 30% tổng số ấn phẩm, dẫn đến sự thiên lệch cấu trúc lớn trong khuôn khổ tính toán FWCI. Với một số lĩnh vực, các ấn phẩm truy cập mở có thể có giá trị FWCI cao hơn gấp đôi so với các ấn phẩm không truy cập mở, cho thấy FWCI có thể bị chi phối bởi chiến lược xuất bản hơn là giá trị khoa học nội tại. Nghiên cứu này đặt ra mối lo ngại về việc các CSGDĐH có thể lợi dụng FWCI để thổi phồng và 'thao túng' chỉ số xếp hạng nhằm leo cao trên bảng xếp hạng [5].
|
Trong phương pháp xếp
hạng đại học thế giới của THE (THE WUR), FWCI được sử dụng để đánh giá Tiêu
chí Chất lượng nghiên cứu (Research Quality) với trọng số 30%. Tiêu chí này gồm
4 chí số: Tác động trích dẫn/Citation impact (15%), Sức mạnh nghiên cứu/Resarch
strength (5%), Xuất sắc nghiên cứu/Research excellence (5%) và Ảnh hưởng của
nghiên cứu/Research influence (5%) – trong đó 3 chỉ số đầu là xác định dựa
trên FWCI.
Chỉ số tác động trích
dẫn của một đơn vị được tính bằng trung bình cộng FWCI của các ấn phẩm đủ điều
kiện từ đơn vị đó và kết hợp FWCI đã điều chỉnh theo quốc gia và chưa điều chỉnh
theo quốc gia với tỷ lệ bằng nhau.
Chỉ số sức mạnh
nghiên cứu xác định qua FWCI phân vị thứ 75 của tất cả bài báo của đơn vị
trong chu kỳ tính toán.
Chỉ số xuất sắc nghiên
cứu được xác định bằng số lượng ấn phẩm nằm trong top 10% FWCI của tất cả các
ấn phẩm toàn cầu, được chuẩn hóa theo năm, chủ đề và quy mô nhân sự của cơ sở
đào tạo [1].
|
Tài liệu tham khảo chính
[1]. Times Higher Education (2026). World University Rankings 2026: methodology. https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/methodology
[5]. Remizov, A., Sadykova, S. & Memon, S.A. (2026). Is field-weighted citation impact fit for purpose? Sensitivity, structural bias, and implications for global university rankings. Scientometrics https://doi.org/10.1007/s11192-026-05683-1
Nhận xét
Đăng nhận xét