Ngày 15/9/2026, Tổ chức xếp hạng Thượng Hải (ShanghaiRanking Consultancy) đã công bố Bảng xếp hạng theo ngành học toàn cầu (Global Ranking of Academic Subjects, GRAS) năm 2026 - đây là một trong những bảng đánh giá toàn diện và khách quan nhất thế giới về các trường đại học theo từng ngành học. Bảng xếp hạng năm nay bao gồm 57 ngành học thuộc các lĩnh vực Khoa học Tự nhiên, Kỹ thuật, Khoa học Sự sống, Y học và Khoa học Xã hội. Tổng cộng có khoảng 2.000 trường đại học đến từ 96 quốc gia và vùng lãnh thổ góp mặt trong bảng xếp hạng GRAS 2026. Có 8 CSGDĐH Việt Nam xuất hiện trong bảng xếp hạng ở 11 ngành.
Trong số 57 CSGDĐH đứng đầu mỗi ngành năm nay, các CSGDĐH Hoa Kỳ tiếp tục chiếm ưu thế khi giành vị trí dẫn đầu ở 27 lĩnh vực, trong khi các CSGDĐH Trung Quốc bám sát ở 22 lĩnh vực xếp hạng. Đại học Harvard có thành tích xuất sắc nhất khi đạt được 11 vị trí dẫn đầu ở 6 ngành thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội, 2 ngành thuộc lĩnh vực Khoa học Sự sống, 2 ngành thuộc lĩnh vực Y học và 1 ngành thuộc lĩnh vực Kỹ thuật. Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc) dẫn đầu ở 7 lĩnh vực, còn MIT đứng đầu ở 5 lĩnh vực. Trong khi đó, Đại học Bách khoa Hồng Kông, Đại học Indiana Bloomington và Đại học Chicago, mỗi trường đều giành được 2 vị trí dẫn đầu.
Có 8 CSGDĐH Việt Nam được xếp hạng ở 11 ngành thuộc 3 lĩnh lực (Kỹ thuật, Y học và Khoa học Xã hội). Trong số đó, Đại học Duy Tân được xếp hạng ở 5 ngành; Đại học Kinh tê TP.HCM ở 3 ngành; Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường ĐH Tôn Đức Thắng, Trường Đại học Y Hà Nội, Trường ĐH Y Dược TP.HCM cùng ở 2 ngành; còn lại Đại học Quốc gia Hà Nội và Học viện Nông nghiệp Việt Nam được xếp hạng ở 1 ngành. Thứ hạng cao nhất đạt được là 101 - 150 của Đại học Kinh tế TP.HCM ở ngành Tài chính.
Tổ chức xếp hạng Thượng Hải lần đầu tiên công bố bảng xếp hạng các CSGDĐH trên thế giới theo lĩnh vực vào năm 2009; bảng xếp hạng này sau đó được đổi tên thành Bảng xếp hạng theo ngành học toàn cầu (GRAS) vào năm 2016.
GRAS 2026 đánh giá các CSGDĐH có số lượng công bố trong giai đoạn 2021–2025 đạt ngưỡng nhất định. Ngưỡng công bố khác nhau tùy theo từng ngành học: thấp nhất là 25 bài (ngành Khoáng sản vã Kỹ thuật khai khoáng, Hành chính công), cao nhất là 300 bài (các ngành Vật lý, Hóa học, Sinh học, Y học lâm sàng), một số ngành là 150 hoặc 200 bài và đa số các ngành là 50 và 100 bài. Dữ liệu được thu thập từ Web of Science và InCites.
GRAS sử dụng các chỉ số học thuật khách quan và dữ liệu từ bên thứ ba để đánh giá, gồm 5 nhóm:
(1). Đội ngũ giảng viên đẳng cấp thế giới (World-Class Faculty) - có 4 chỉ số: Người đoạt giải học thuật quốc tế (Laureate), Nhà nghiên cứu được trích dẫn nhiều (HCR), Tổng biên tập các tạp chí học thuật quốc tế (Editor) và Lãnh đạo các tổ chức học thuật quốc tế (Leadership).
(2). Thành tựu học thuật đẳng cấp thế giới (World-Class Output) - có 2 chỉ số: Số bài báo trên tạp chí hàng đầu (TJ) và Các giải thưởng học thuật quốc tế (Award).
(3). Nghiên cứu chất lượng cao (High-Quality Research) - Số bài báo trên tạp chí thuộc hạng Q1.
(4). Tác động của nghiên cứu (Research Impact) - Chỉ số tác động trích dẫn chuẩn hóa theo lĩnh vực (CNCI).
(5). Hợp tác quốc tế (International Collaboration) - Số bài báo hợp tác quốc tế (IC).
Danh sách các tạp chí hàng đầu, giải thưởng học thuật quốc tế và các tổ chức học thuật chủ chốt được xác định thông qua Khảo sát về xuất sắc trong học thuật (AES) do Tổ chức xếp hạng Thượng Hải thực hiện.

Nhận xét
Đăng nhận xét